Lịch vạn niên
Lịch âm dương Việt Nam từ 1900 đến 2100
Xem ngày âm lịch, can chi, tiết khí và giờ hoàng đạo của bất kỳ ngày nào, tính theo múi giờ Việt Nam (GMT+7). Bấm vào một ngày trên lịch để xem chi tiết, hoặc đổi một ngày dương lịch sang âm lịch và ngược lại.
- 15 mùng 1 và rằm
- Lập đông ngày bắt đầu tiết khí
- Quốc khánh ngày lễ
- Chấm vàng: ngày lễ hoặc ngày bắt đầu tiết khí
Đổi ngày dương lịch và âm lịch
Dương lịch sang âm lịch
Âm lịch sang dương lịch
Âm lịch Việt Nam được tính thế nào
Âm lịch Việt Nam là âm dương lịch: tháng đi theo Mặt Trăng, còn năm được giữ cho khớp với mùa theo Mặt Trời. Mỗi tháng bắt đầu vào ngày có điểm sóc, lúc Mặt Trăng nằm giữa Trái Đất và Mặt Trời. Hai lần sóc cách nhau trung bình khoảng 29,5 ngày, nên có tháng đủ 30 ngày, có tháng thiếu 29 ngày.
Điểm sóc là một khoảnh khắc chung cho cả Trái Đất, nhưng rơi vào ngày nào lại tùy múi giờ. Âm lịch Việt Nam ngày nay tính theo giờ Hà Nội (GMT+7), âm lịch Trung Quốc tính theo giờ Bắc Kinh (GMT+8). Khi điểm sóc rơi vào khoảng 23 giờ đến nửa đêm giờ Hà Nội, ở Bắc Kinh đã sang ngày hôm sau, nên tháng mới của Việt Nam bắt đầu sớm hơn một ngày. Vì thế có năm Tết hai nước lệch nhau: Tết năm 1968 ở Việt Nam là ngày 29 tháng 1, sớm hơn Trung Quốc một ngày; Tết năm 1985 là ngày 21 tháng 1, sớm hơn Trung Quốc cả một tháng.
Lịch trên trang này dùng GMT+7 cho mọi ngày từ năm 1900 đến 2100, theo thuật toán thiên văn của Hồ Ngọc Đức, cũng là phép đổi lịch trang dùng khi lập lá số. Với những năm trước khi Việt Nam chuyển sang GMT+7, vài ngày có thể khác lịch in thời ấy. Ngày hôm nay trên trang là ngày ở Việt Nam, dù bạn ở đâu.
Vì sao có năm có tháng nhuận
Mười hai tháng âm lịch cộng lại chỉ khoảng 354 ngày, ngắn hơn năm theo Mặt Trời chừng 11 ngày. Nếu không bù lại, chỉ sau mười mấy năm Tết sẽ trôi sang giữa mùa hè. Vì vậy âm lịch thỉnh thoảng thêm một tháng thứ mười ba, gọi là tháng nhuận. Trung bình cứ 19 năm có 7 năm nhuận.
Tháng nhuận không được chọn tùy ý. Trong 24 tiết khí có 12 trung khí, như Xuân phân, Hạ chí, Thu phân và Đông chí, và thường mỗi tháng âm lịch chứa một trung khí. Tháng chứa Đông chí luôn là tháng 11. Nếu từ tháng 11 năm trước đến tháng 11 năm sau có tới mười ba tháng, thì tháng đầu tiên trong khoảng ấy không chứa trung khí nào là tháng nhuận, và mang số của tháng đứng ngay trước nó. Ví dụ, năm Quý Mão 2023 có tháng 2 nhuận: sau tháng 2 là một tháng 2 nữa, rồi mới đến tháng 3.
Vị trí tháng nhuận phụ thuộc vào thời điểm của trăng mới và trung khí, tính theo giờ Việt Nam, nên đôi khi tháng nhuận của lịch Việt Nam khác lịch Trung Quốc. Trên lịch của trang, ngày mùng 1 của tháng nhuận được ghi kèm chữ “nhuận”, và tháng nhuận mang can chi của tháng nó lặp lại. Khi đổi âm lịch sang dương lịch, hãy đánh dấu ô “Tháng nhuận” nếu ngày cần đổi thuộc tháng nhuận.
24 tiết khí trong năm
Tiết khí đi theo Mặt Trời chứ không theo Mặt Trăng. Vòng đi biểu kiến của Mặt Trời trong một năm được chia làm 24 phần, mỗi phần 15 độ. Mặt Trời tới mỗi mốc là một tiết khí bắt đầu, nên các tiết khí cách nhau chừng 15 ngày và rơi vào gần như cùng ngày dương lịch mỗi năm: Lập xuân khoảng 4 tháng 2, Xuân phân khoảng 20 hoặc 21 tháng 3, Hạ chí khoảng 21 tháng 6, Thu phân khoảng 23 tháng 9, Đông chí khoảng 21 hoặc 22 tháng 12.
Tên các tiết khí kể chuyện thời tiết và mùa màng ở lưu vực sông Hoàng Hà, nơi cách chia này ra đời. Lập xuân, Lập hạ, Lập thu, Lập đông mở đầu bốn mùa; Kinh trập là lúc sâu bọ thức giấc; Thanh minh là tiết trời trong sáng, dịp nhiều gia đình đi tảo mộ; Sương giáng là khi sương bắt đầu xuống. Khí hậu Việt Nam không khớp hẳn với các tên ấy, nhưng tiết khí vẫn được dùng để định mùa vụ và để xếp tháng nhuận.
Trên lịch, ngày bắt đầu một tiết khí được ghi tên tiết khí ấy: đó là ngày, theo giờ Việt Nam, mà Mặt Trời đi qua mốc của nó. Vị trí Mặt Trời được tính bằng một công thức gần đúng, nên một tiết khí bắt đầu sát nửa đêm có thể được ghi sang ngày bên cạnh so với lịch in.